Tú tài Nghiêm Phúc Đồng – Người thực hiện con đường Duy Tân đổi mới trên quê hương Đốc Tín đầu thế kỷ 20

14-09-2018
Bởi: Nguyễn Thanh Huyền Có: 0 bình luận 512 lượt xem

Tú tài Nho học Nghiêm Phúc Đồng (1891-1939) là nhân sỹ tiến bộ trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước, sinh ra và lớn lên ở làng Đốc Tín, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông (nay là xã Đốc Tín, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội), nơi mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, có nghề truyền thống ươm tơ, dệt lụa nổi tiếng từ lâu đời. Với tinh thần yêu nước, Tú tài Nghiêm Phúc Đồng đóng góp nhiều cho sự nghiệp “Khai dân trí – chấn dân khí – hậu dân sinh” trên quê hương hương Đốc Tín và có công làm thay đổi từ một làng quê nghèo trở thành văn minh nhất vùng. Ông là một nhà nho tiến bộ, đi đầu tất cả những trí thức đương thời của khu vực huyện Mỹ Đức (Hà Nội) và quê hương Đốc Tín đầu thế kỷ 20.

Ông Nghiêm Phúc Đồng (dân làng thường gọi là cụ Tú Đồng) đỗ Tú tài Nho học trong khoa thi Hương tại trường thi Nam Định, dưới triều Vua Duy Tân (1907-1916), ông được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm làm quan Lục sự ở huyện Phủ Cừ, tỉnh Hưng Yên. Sau đó ông từ quan trở về quê rồi đi Sài Gòn gặp cụ Phan Bội Châu tìm đường xuất dương sang Nhật. Công việc không thành khi trên đường từ quê đến Phủ Lý (Hà Nam) thì bị bại lộ do mật thám theo dõi ráo riết, nên ông trở về làng chờ thời cơ. Trong thời gian sống với dân làng, ông vận động các cụ và các tầng lớp thanh niên đi theo con đường Duy Tân, tấm gương của những chí sỹ yêu nước đứng đầu là Phan Bội Châu, Phan Chu Chinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can, đề xướng như: Mở hội buôn, lập trường học, dạy chữ quốc ngữ, lập nông hội, kêu gọi cắt tóc ngắn, phụ nữ mặc áo dài, đàn ông bỏ đóng khố chuyển sang âu phục dùng vải nội địa hóa…

Dưới sự vận động của ông, các tầng lớp trí thức, chức dịch nông thôn và nhân dân hưởng ứng nghe theo. Tú tài Nho học Nghiêm Phúc Đồng đã dấn thân thực hiện phong trào Duy Tân, làm thay đổi trong lòng xã hội phong kiến, thực dân thoát khỏi sự nô lệ, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu đã thổi luồng sinh khí mới vào đời sống xã hội lúc đó đang bị trì trệ, thúc đẩy thế hệ mới học văn minh thế giới nhưng vẫn phải giữ lấy quốc hồn của văn hóa Việt…

Để áp dụng trong thực tiễn, ông đã vận động các chức dịch và nhân dân thay đổi bằng cách nâng cao trình độ trí tuệ, đạo đức, phát triển kinh tế, văn hóa, học theo tư tưởng tiến bộ của phương Tây; xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan và tệ nạn ăn uống xa hoa, cờ bạc, rượu chè, nghiện hút trong các đình đám, ma chay. Ông vận động các gia đình trong làng tìm việc khác sinh sống, không được đi “làm mõ”. Nếu gia đình nào đi “làm mõ” khi có công việc vui, buồn, hiếu – hỷ,…dân làng sẽ không đến dự. Với mục đích nhằm giáo dục thoát khỏi tư duy nô lệ, động cơ thấp hèn, kìm hãm trí tuệ…

Ông họp bàn 4 Giáp (giáp Đông, Giáp Tây, Giáp Bắc, Giáp Nam) lập chòi gác trên Gò Cầu và cắt cử các giáp thay phiên nhau canh gác để kiểm tra những gia đình thuê tá điền, người lao động làm thuê gặt lúa phải cho ăn uống tử tế, cơm bắt buộc phải có canh và thức ăn. Thậm chí ông còn trực tiếp trưa nắng ra đồng kiểm tra thức ăn của các gia đình đem thức ăn ra cho người gặt lúa. Nếu gia đình nào vi phạm đối xử với người lao động không cho ăn uống tử tế sẽ bị phạt nặng.

Ông cùng các trí thức Nho học và Tây học cùng tham gia soạn thảo “Khoán ước thời cải lương xã Đốc Tín năm Canh Thân 1921” dưới thời Vua Khải Định thứ 5, gồm 149 Điều, 19 Chương được Tri phủ Trần Văn Đại, Tri huyện Nguyễn Xuân Đỉnh ký áp triện.

Trong thời gian này bộ máy chức dịch trong làng xưa đều xuất thân từ Nho học, có Tú tài Nho học Nguyễn Phúc Được (dân làng thường gọi là cụ Tú Được) làm tiên chỉ của làng nay chuyển sang Tây học. Bởi vậy, ông Trần Đình Nghị tốt nghiệp Tú tài toàn phần trường Bưởi – Hà Nội đã tham gia ứng cử tại quê và được dân làng tín nhiệm bầu làm tiên chỉ của làng. (Sau này ông Tú Nghị tham gia công tác ở Viện Viễn Đông Bác Cổ chuyên nghiên cứu về lịch sử và sử học)…

Để phát triển về kinh tế, ông vận động dân làng không sống bằng thuần nông mà chuyển sang phát triển ngành nghề như: Ươm tơ, dệt lụa, chăn tằm, buôn bán, vận động nhân dân lấy tơ lụa từ Vạn Phúc – Hà Đông mang về cho dân làng dệt thành lụa. Ông đã cải tạo được cuộc sống kinh tế, nhân dân thoát khỏi sự thuần nông, sống bằng nghề phụ. Bởi vậy, nghề dệt lụa, ươm tơ thịnh đạt, trong làng có hàng trăm khung cửi dệt các loại lụa xuất đi Hà Nội, cố đô Huế, Sài Gòn và sang thị trường nhiều nước như: Hồng Kong, Ma Cao, Thái Lan, Lào, Pháp và một số nước Châu Âu để bán.

Năm 1937, tơ lụa Đốc Tín được giới thiệu đi dự “Hội chợ triển lãm kinh tế các nước thuộc địa’ của Pháp tại Paris. Năm 1920, nhà tư bản Pháp (chủ nhà máy dệt Nam Định) đã đầu tư xây dựng một nhà máy ươm tơ hiện đại với nguồn cung cấp tơ chủ yếu là từ Hà Nam và các nơi quanh vùng. Nhà máy sử dụng vài trăm công nhân chủ yếu là người dân Đốc Tín xuất thân từ nghề thủ công…

Ông khuyến khích dân học nghề nghiệp, hội buôn và sản xuất hàng hóa. Bởi vậy, trong làng có người trở thành những thương gia, nhà tư sản như: Ông Cai Trừng (họ Nguyễn Danh) có nhiều tầu thuyền kinh doanh đường sông với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi, chở khách từ Phủ Lý – Nam Định đi Bến Đục – Chùa Hương. Ông cũng là người sở hữu ô tô động cơ hơi nước đầu tiên ở Việt Nam. Gia đình ông Ky Bích thành lập ty rượu tại quê bằng công nghệ hiện đại của Pháp được chiết xuất loại bỏ các độc tố, đảm bảo chất lượng quốc tế xuất đi tiêu thụ trong nước và quốc tế. Bà Lý Hào Niêm thành lập “Hiệu buôn Tín – Mỹ” tại làng Bưởi – Hà Nội và Sài Gòn chuyên buôn bán kinh doanh tơ lụa. Gia đình bà An Thái tại 43 Hàng Bài chuyên kinh doanh tơ lụa và than từ Quảng Ninh về Hà Nội. (Trong nạn đói năm Ất Dậu 1945, bà An Thái đã cho người về quê tổ chức nấu cơm phát chẩn cứu sống nhiều gia đình. Sau cách mạng tháng Tám bà hiến nhiều nhà cửa và tài sản cho cách mạng. Cháu ruột bà là nhà Bác học Nguyễn Hữu Minh Chí (1952 – 1991), chuyên giảng dạy và đào tạo cấp bằng tiến sỹ (Ph.D) tại Đại học U.S.C Los Angeles và Culumbia U.SA (Mỹ) sinh ra ở số nhà 43 Hàng Bài. Khi mất năm 39 tuổi xác được thiêu đưa về quê Đốc Tín chôn cất, một trí thức Việt Kiểu nổi tiếng trên đất Mỹ người duy nhất được cả quốc gia Hoa Kỳ để quốc tang)…

Để thay đổi về văn hóa giáo dục, ông là người có công trong việc lối học tầm chương trích cú, chuyển đổi từ xã hội phong kiến cổ hủ sang mở lớp dạy chữ quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng. Ông bán cả tư điền và vay nông khố mở lớp học tại đình làng mang tên “lớp Đồng Khánh”. Người dạy chữ quốc ngữ đầu tiên là cụ: Nguyễn Trinh Diễm (gọi là cụ giáo Ba) vừa dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Lớp học đã thu hút đông đảo các thanh niên trong vùng tới học như: Đông Bình, Trinh Tiết, An Đà, Hương Sơn, Bạch Tuyết, Bài Lâm của huyện Mỹ Đức và Thanh Bồ của huyện Ứng Hòa. Nhà văn Hoài An (Báo Văn Nghệ) thôn Bài Lâm, Ứng Hòa  từng học lớp học đầu tiên ở đây. Trong làng có người làm ăn phát đạt, có một số gia đình có con cái học tại trường Bưởi – Hà Nội.

Ông làm đơn xin Chính phủ bảo hộ lập nhà hộ sinh, cử người đi học y tá, hộ sinh về phục vụ dân làng. Ông vận động 4 Giáp bán ruộng công, mua gạch lát đường làng suốt từ cống Đồng Dầy kéo dài lên đến đình làng và xây các bến tắm ven sông Đáy.

Xưa làng Đốc Tín nằm giữa rốn nước nên thường cứ tháng  6 – 7 mưa lũ nước ngập mênh mông, đất đai ngập hết khiến người chết không có chỗ chôn. Do vậy, ông đã bàn bạc với các họ tộc góp công sức xây dựng nghĩa địa như: Đồng Nẩy, Giải Cờ (Đốc Kính), khu nghĩa địa gần bãi nhãn công viên. Mỗi khu nghĩa địa được quy hoạch với diện tích 5 sào đất đắp thành gò cao, ở giữa trồng cây đa làm bóng mát xung quanh.

Ông vận động góp thóc lập “Quỹ nghĩa thương” để giúp người nghèo, cho vay với lãi xuất thấp để cứu nhau lúc giáp hạt (Quỹ thóc lên tới 5 tấn). Kết hợp với việc trồng trọt, ông bàn với các kỳ mục, chức dịch trong làng chuyển 2 chục mẫu đất ven sông từ trồng dâu chuyển sang trồng cây ăn quả lưu niên. Ông cùng một số người sang Hưng Yên tìm mua giống nhãn lồng Phố Hiến, về ươm hạt rồi đem ra bãi trồng dọc bờ sông khoảng 300 cây, còn đâu quy hoạch trồng vải. Ông tổ chức trồng rất khoa học, trồng theo kiểu nanh sấu, khoảng cách đều nhau, khi cây cổ thụ cũng không hề chạm tán. Tiền bán nhãn dùng để đóng thuế xuất đinh của các gia đình nghèo không có khả năng nộp trong lúc giáp hạt. (Đặc biệt vào cuối thập niên 70, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm và chụp bên gốc cây nhãn cổ thụ. Thương hiệu nhãn của Đốc Tín từng nổi tiếng một thời tại chợ Long Biên – Hà Nội. Trong thập kỷ 90 có thời điểm bãi nhãn đã cho thu hoạch hàng tỷ đồng. Năm 1996 xã Đốc Tín xây dựng trường cấp 2 trị giá 600 triệu đồng khang trang bằng tiền bán nhãn).

Người dân sống dưới chế độ phong kiến, thực dân Pháp đô hộ nhưng dưới sự kêu gọi của Tú tài Nghiêm Phúc Đồng, bằng tâm hồn yêu nước, cốt cách đạo đức trong sáng đã thực hiện con đường Duy Tân đổi mới toàn bộ quê hương trên mọi lĩnh vực nhằm phát triển kinh tế, thương mại, sản xuất ngành nghề thủ công…

Tác giả cùng bà NGhiêm Thị Thường (thứ 2 bên trái), con gái duy nhất của Tú tài Nghiêm Phúc Đồng

Tác giả cùng bà Nghiêm Thị Thường Thứ 2 bên trái), con gái Tú tài Nghiêm Phúc Đồng

Tú tài Nghiêm Phúc Đồng lâm bệnh mất năm 1939 trong lúc phong trào cách mạng đang bắt đầu phát triển ở quê hương Đốc Tín. (Sau này, 2 người con gái của ông là Nghiêm Thị Biểu và Nghiêm Thị Thường đều tham gia du kích và hoạt động cách mạng tại quê nhà. Bà Nghiêm Thị Biểu tham gia du kích, bị Pháp bắn chết năm 1946 khi mới 17 tuổi. Còn một con trai duy nhất là Nghiêm Phúc Dân bị chó dại cắn chết năm 1944 khi mới 16 tuổi đang học tại trường trung học Vân Đình, ở tại gia đình nhà văn, nhà thơ Dương Khuê một quan lại triều Nguyễn là người ở làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Còn người con gái Nghiêm Thị Thường mất năm 2013…

Sau khi Tú tài Nghiêm Phúc Đồng mất, nhà thơ Tản Đà quê hương Xứ Đoài mây trắng đã viết bài thơ “Nhớ bạn” tặng người bạn thân tri kỷ của mình vào năm 1939. Tú tài Nghiêm Phúc Đồng mất đi nhưng tên tuổi của ông và sự nghiệp đóng góp trong phong trào Duy Tân đã ghi sâu vào tâm trí mỗi người dân quê hương Đốc Tín, một vùng quê giàu truyền thống văn hiến, sớm có phong trào cách mạng, nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ở phía nam Hà Đông cũ (năm 1936). Năm 2000 xã Đốc Tín được Đảng và Nhà nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp.

                                        Minh  Xuân (Phóng viên Thời báo Làng nghề Việt)

                          

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC